TÀI LIỆU: Các Nguyên tắc Quốc Tế về áp dụng Quyền con người đối với giám sát truyền thông.

Ngày nay, các công nghệ hỗ trợ việc giám sát thông tin liên lạc của Nhà nước thường không đảm bảo rằng luật, quy định, hoạt động, quyền hạn và cơ quan liên quan đến Giám sát Truyền thông tuân thủ luật trong nước cũng như các tiêu chuẩn nhân quyền quốc tế.

Tài liệu này cố gắng làm rõ cách áp dụng luật nhân quyền quốc tế trong môi trường kỹ thuật số hiện tại, đặc biệt là về sự gia tăng và thay đổi các kỹ thuật trong Giám sát Truyền thông. Tài liệu này được nhóm Que Diêm dịch và biên tập.

Những nguyên tắc này có thể cung cấp cho các nhóm xã hội dân sự, các công ty và các tổ chức khác một khuôn khổ để đánh giá liệu luật pháp và việc giám sát bằng công nghệ hiện tại được đề xuất có phù hợp với quyền con người hay không.

Và đây cũng là kết quả của một cuộc tư vấn toàn cầu với các nhóm xã hội dân sự và các chuyên gia quốc tế về luật, chính sách và công nghệ giám sát truyền thông.

LỜI NÓI ĐẦU

 Quyền riêng tư là một quyền cơ bản của con người, và là trung tâm của việc duy trì các xã hội dân chủ. Nó quan trọng vì nó liên quan trực tiếp đến nhân phẩm con người và nó cũng củng cố các quyền khác, như: tự do ngôn luận – thông tin, tự do hiệp hội, và được công nhận theo luật nhân quyền quốc tế.

Giám sát Truyền thông can thiệp vào quyền riêng tư giữa một số quyền con người khác. Nó chỉ có thể được biện minh khi nó được quy định bởi pháp luật, nhằm để đạt được một mục tiêu hợp pháp, và tương xứng với mục đích theo đuổi.

Trong những thập kỷ gần đây, việc áp dụng các nguyên tắc pháp lý trong bối cảnh công nghệ mới đã trở nên không rõ ràng. Sự bùng nổ của nội dung truyền thông kỹ thuật số và thông tin giao tiếp hoặc sử dụng thiết bị điện tử của cá nhân (để lưu trữ và khai thác dữ liệu từ các cá nhân thông qua nhà cung cấp dịch vụ) đã phát triển với quy mô chưa từng có.

Trong khi đó, khái niệm về luật nhân quyền hiện tại không theo kịp với công nghệ và kỹ thuật giám sát truyền thông hiện đại. Tần suất mà các chính phủ đang tìm kiếm quyền truy cập vào cả nội dung truyền thông lẫn siêu dữ liệu đang tăng đáng kể, mà không có sự giám sát đầy đủ.

Siêu dữ liệu(Big Data) có thể tạo ra một hồ sơ về cuộc sống của một cá nhân, bao gồm: điều kiện y tế, quan điểm chính trị và tôn giáo, các mối quan hệ và lợi ích.

(Định nghĩa đầy đủ: Siêu dữ liệu truyền thông có thể bao gồm thông tin về danh tính của chúng ta (thông tin người đăng ký, thông tin thiết bị), tương tác (nguồn gốc và điểm đến của truyền thông, đặc biệt là những trang web đã truy cập, sách và các tài liệu khác đã đọc, mọi người tương tác, bạn bè, gia đình, người quen, tìm kiếm , tài nguyên được sử dụng) và vị trí (địa điểm và thời gian, sự gần đúng với người khác); Tóm lại, siêu dữ liệu cung cấp một tài liệu gần như có mọi hành động trong cuộc sống hiện đại, trạng thái tinh thần, sở thích, ý định và những suy nghĩ sâu sắc nhất của chúng ta.)

Mặc dù sự xâm nhập vào cuộc sống của một cá nhân sẽ gây ra những hiểm họa nghiêm trọng và ảnh hưởng tiêu cực đến chính trị, các vấn đề hiệp hội, pháp luật, và các hoạt động khác. Nhưng các cơ quan nhà nước lại thường hạ thấp cấp độ bảo vệ các hệ thống siêu dữ liệu này và không có một sự hạn chế đầy đủ về cách các thông tin này được sử dụng.

PHẠM VI ÁP DỤNG

Các nguyên tắc này được viết một cách toàn diện và để cho mọi người trên thế giới tham khảo – mỗi nguyên tắc nên được đọc và hiểu là một phần của một khuôn khổ lớn hơn, đó là thực hiện một mục tiêu duy nhất: đảm bảo rằng luật, chính sách và các vấn đề thực tế liên quan đến Giám sát Truyền thông phải tuân thủ theo luật và tiêu chuẩn nhân quyền quốc tế, đồng thời bảo vệ đầy đủ các quyền con người cá nhân như quyền riêng tư và tự do ngôn luận.

Vì vậy, để các quốc gia thực sự đáp ứng các nghĩa vụ nhân quyền quốc tế liên quan đến Giám sát Truyền thông, họ phải tuân thủ theo từng nguyên tắc được nêu bên dưới.

Những nguyên tắc này áp dụng cho việc giám sát được tiến hành trong phạm vi một quốc gia hoặc ngoài lãnh thổ. Các nguyên tắc này cũng được áp dụng cho bất kể mục đích nào của việc giám sát, (-) bao gồm thi hành luật, bảo vệ an ninh quốc gia, thu thập thông tin tình báo hoặc chức năng khác của chính phủ. Họ cũng phải áp dụng cả hai nghĩa vụ đó là tôn trọng và thực hiện các quyền con người, đồng thời là nghĩa vụ bảo vệ quyền con người của các cá nhân để không bị nhà nước lạm dụng, kể cả các doanh nghiệp kinh doanh.

THAY ĐỔI CÔNG NGHỆ VÀ ĐỊNH NGHĨA

“Giám sát Truyền thông” trong môi trường hiện đại bao gồm việc giám sát, ngăn chặn, thu thập, phân tích, sử dụng, bảo quản, giữ lại, can thiệp, truy cập hoặc các hành động tương tự được thực hiện liên quan đến các thông tin bao gồm phản ánh, phát sinh từ một người thông tin liên lạc trong quá khứ, hiện tại hoặc tương lai.

“Truyền thông” bao gồm các hoạt động, tương tác và giao dịch được truyền qua phương tiện điện tử, chẳng hạn như nội dung truyền thông, danh tính của các bên liên lạc, theo dõi vị trí, thông tin bao gồm địa chỉ IP, thời gian liên lạc, các thiết bị được sử dụng.

“Thông Tin được Bảo Vệ” là thông tin bao gồm, phản ánh, phát sinh từ, hoặc là về thông tin liên lạc của một người và những thông tin đó không phải là có sẵn hay dễ dàng tiếp cận được.

Mặc dù từ lâu Thế giới đã đồng ý rằng nội dung truyền thông xứng đáng được bảo vệ tốt hơn, bởi vì khả năng tiết lộ thông tin nhạy cảm (rõ ràng là các thông tin khác phát sinh từ truyền thông  có thể tiết lộ nhiều hơn về cá nhân hơn là nội dung).

Ngày nay, mỗi loại thông tin này có thể được lấy một mình hoặc phân tích chung, tiết lộ danh tính, hành vi, hiệp hội, tình trạng thể chất hoặc y tế, chủng tộc, màu sắc, khuynh hướng tình dục, nguồn gốc quốc gia hoặc quan điểm; bật bản đồ vị trí của người đó, hoặc tất cả mọi người ở một địa điểm cụ thể, bao gồm xung quanh một cuộc biểu tình công khai hoặc sự kiện chính trị khác. Do đó, tất cả các Thông tin được bảo vệ phải được bảo vệ ở cấp độ cao nhất trong Luật.

Trong việc đánh giá sự xâm lấn của giám sát truyền thông nhà nước, rất cần thiết để xem xét cả khả năng việc để lộ Thông Tin được Bảo Vệ, cũng như mục đích mà chính quyền tìm kiếm những thông tin này. Bất kỳ giám sát truyền thông nào cũng là sự can thiệp vào nhân quyền và vì vậy luật nhân quyền quốc tế phải được áp dụng.

Giám sát Truyền thông có nguy cơ sẽ dẫn đến việc tiết lộ Thông Tin được Bảo vệ, khiến một người bất kỳ có nguy cơ bị điều tra, phân biệt đối xử hoặc vi phạm nhân quyền và vô ý tạo thành một hành vi vi phạm nghiêm trọng quyền riêng tư của cá nhân, đồng thời cũng sẽ làm suy yếu việc hưởng các quyền cơ bản khác, bao gồm quyền tự do ngôn luận, hội họp và tham gia chính trị.

Việc xác định liệu Nhà nước có thể tiến hành việc giám sát truyền thông liên quan đến thông tin được bảo vệ hay không, thì phải phù hợp với các nguyên tắc sau đây.

CÁC NGUYÊN TẮC

 Nguyên tắc 1: Tính hợp pháp

Bất kỳ sự hạn chế nào đối với quyền con người đều phải được pháp luật quy định. Nhà nước không được áp dụng hoặc thực hiện các biện pháp can thiệp vào các quyền này, nếu không có hành động lập pháp được công khai rõ ràng, đáp ứng tiêu chuẩn cụ thể và chính xác đủ để đảm bảo rằng các cá nhân có thông báo trước và có lường trước được hành động của mình. Căn cứ vào tỷ lệ thay đổi của công nghệ, luật hạn chế quyền con người phải chịu sự rà soát định kỳ có sự tham gia của các nhà lập pháp hoặc các quy trình quản lý.

Theo ICCPR(Công ước quốc tế về quyền dân sự và chính trị), một Luật phải được xây dựng với đầy đủ tính chính xác để cho phép một cá nhân điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp và nó phải được công chúng tiếp cận.

Nói một cách khác, các điều luật bí mật, các hướng dẫn bí mật hoặc giải thích các quy tắc một cách bí mật thì không có chất lượng “luật”.  Luật mà không công khai thì không phải là luật, vì một thành phần thiết yếu của luật pháp đó là luật phải được mọi người biết đến và có thể tiếp cận.

Ngoài ra, cần thiết phải thiết lập các cơ quan giám sát độc lập để xem xét các chính sách và thực tiễn nhằm đảm bảo giám sát chặt chẽ việc sử dụng các kỹ thuật giám sát xâm nhập và xử lý thông tin cá nhân. Do đó, không có hệ thống giám sát bí mật nào không được xem xét bởi một cơ quan giám sát độc lập và tất cả các can thiệp phải được ủy quyền thông qua một cơ quan độc lập.

Nguyên tắc 2: Mục tiêu hợp pháp

Pháp luật chỉ nên cho phép Giám sát Truyền thông của các cơ quan nhà nước được chỉ định để đạt được mục tiêu hợp pháp, tương ứng với một lợi ích pháp lý quan trọng cần thiết trong xã hội dân chủ.

Những mục tiêu này cực kỳ rộng rãi bao gồm an toàn công cộng, phòng chống tội phạm, bảo vệ đạo đức và quyền của người khác, và an ninh quốc gia.

Việc sử dụng khái niệm vô định hình về an ninh quốc gia để biện minh cho những hạn chế xâm lấn về việc hưởng các quyền con người là mối quan tâm nghiêm túc.

Khái niệm này được định nghĩa rất rộng và do đó dễ bị thao túng bởi Nhà nước như một phương tiện để biện minh cho các hành động nhắm vào các nhóm dễ bị tổn thương như các nhà bảo vệ nhân quyền, nhà báo hoặc nhà hoạt động xã hội dân sự.

Nó cũng thường xuyên làm suy yếu các nguyên tắc minh bạch và trách nhiệm giải trình của chính quyền.

Tòa án Hiến pháp Đức cho rằng các khái niệm như vậy phải được chứng minh trên cơ sở bằng chứng cụ thể rằng có một “mối đe dọa cụ thể đến một lợi ích được bảo vệ hợp pháp”, chẳng hạn như đe dọa đến “cuộc sống, sự tự do của một người” hoặc “hàng hóa công cộng,đe doạ đến sự tồn tại của nhà nước, hay những điều kiện tiên quyết cơ bản về sự tồn tại của con người.”

Ngoài ra, bất kỳ biện pháp nào cũng không được áp dụng theo cách phân biệt đối xử dựa trên chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị , nguồn gốc quốc gia hoặc xã hội, tài sản, nơi sinh hoặc tình trạng khác.

Nguyên tắc 3: Sự cần thiết

Các luật, quy định, hoạt động, quyền hạn hoặc cơ quan giám sát phải được giới hạn nghiêm ngặt và chứng minh cần thiết để đạt được mục tiêu hợp pháp. Giám sát truyền thông chỉ được thực hiện khi nó là phương tiện duy nhất để đạt được mục tiêu hợp pháp, hoặc khi có nhiều phương tiện, thì đó là phương tiện ít có khả năng xâm phạm quyền con người nhất.

Nguyên tắc 4: Sự phù hợp

Bất kỳ trường hợp nào của Giám sát Truyền thông được pháp luật ủy quyền phải phù hợp để thực hiện. Nghĩa là phải xác định mục tiêu chính đáng và cụ thể.

Nguyên tắc 5: Tỷ lệ phần trăm

Giám sát truyền thông nên được coi là một hành động gây trở ngại cho nhân quyền và đe dọa đến nền tảng của một xã hội dân chủ. Các quyết định về Giám sát Truyền thông phải xem xét sự nhạy cảm của thông tin được truy cập và mức độ nghiêm trọng của việc vi phạm nhân quyền và các quyền lợi cạnh tranh khác. Cụ thể như sau:

  • có một mức độ xác suất cao rằng một tội phạm nghiêm trọng hay mối đe dọa cụ thể đã hoặc sẽ được thực hiện;
  • có một bằng chứng chứng minh sự liên quan của một tội phạm nghiêm trọng hoặc mối đe dọa cụ thể đến một mục tiêu hợp pháp;
  • các kỹ thuật ít xâm phạm quyền riêng tư khác đã được sử dụng hoặc sẽ vô ích, do đó các kỹ thuật được sử dụng là tùy chọn ít xâm lấn nhất;
  • bất kỳ thông tin dư thừa nào được thu thập sẽ không được giữ lại, mà thay vào đó sẽ bị phá hủy hoặc trả lại ngay lập tức; và
  • thông tin sẽ chỉ được truy cập bởi cơ quan được chỉ định và chỉ được sử dụng cho mục đích và thời hạn xác định; và
  • các hoạt động giám sát được yêu cầu và kỹ thuật được đề xuất không làm suy yếu bản chất của quyền riêng tư hoặc quyền tự do cơ bản.

Để theo dõi mục tiêu, các Nguyên tắc thảo luận các yếu tố phải được thiết lập cho một cơ quan có thẩm quyền tư pháp trước khi giám sát. Cần có các yêu cầu giới hạn cẩn thận đối với thông tin được truy cập, cũng như các giới hạn về sử dụng và lưu giữ. Quan trọng hơn (sẽ được thảo luận bên dưới) điều khoản này đòi hỏi vai trò của một Thẩm quyền tư pháp có thẩm quyền.

Nguyên tắc 6: Thẩm quyền tư pháp có sự độc lập.

Như đã nói ở trên, các Nguyên tắc yêu cầu tất cả các quyết định liên quan đến Giám sát Truyền thông phải được thực hiện bởi một cơ quan tư pháp có thẩm quyền hành động độc lập với chính phủ và phù hợp với quy định pháp luật. Điều này phản ánh yêu cầu cốt lõi của luật nhân quyền quốc tế rằng việc sử dụng quyền hạn giám sát hợp pháp của các viên chức công cộng không chỉ cần thiết và cân xứng mà còn được tham dự bởi các biện pháp bảo vệ nghiêm ngặt được giám sát độc lập chống lạm dụng.

Các quyết định liên quan đến Giám sát Truyền thông phải được thực hiện bởi một cơ quan có thẩm quyền tư pháp vô tư và độc lập. Thẩm quyền phải là:

  • tách biệt và độc lập với các cơ quan chức năng tiến hành giám sát truyền thông;
  • đối thoại trong các vấn đề liên quan và có thẩm quyền đưa ra quyết định tư pháp về tính hợp pháp của Giám sát Truyền thông, các công nghệ được sử dụng và nhân quyền; và
  • có đủ nguồn lực trong việc thực hiện các chức năng được giao cho họ.

Nguyên tắc 7: Qui Trình hợp pháp (Due Process)

Qui Trình này yêu cầu các quốc gia tôn trọng và bảo đảm quyền con người bằng cách đảm bảo rằng các thủ tục phải được liệt kê hợp pháp và đúng Luật trước khi có sự can thiệp nào đối với quyền con người, được thực hành thường xuyên và luôn có sẵn cho người dân tiếp cận.

Cụ thể, trong việc xác định quyền con người của mình, mọi người được hưởng một phiên Toà công bằng và công khai trong một thời gian hợp lý bởi một tòa án độc lập, có thẩm quyền và công bằng được thành lập theo luật, ngoại trừ trong trường hợp khẩn cấp khi có nguy cơ rủi ro xảy ra mà có thể nguy hiểm đối với cuộc sống của họ.

Trong những trường hợp như vậy, ủy quyền hồi tố phải được tìm kiếm trong một khoảng thời gian hợp lý có thể thực hiện được.

Nguyên tắc 8: Thông báo người dùng

Theo luật nhân quyền quốc tế, các nguyên tắc thông báo cho người dùng và minh bạch không chỉ được hiểu theo quyền riêng tư mà còn là một phần của quyền đối với một biện pháp khắc phục hiệu quả và cho một phiên tòa công bằng.

Những người có thông tin liên lạc bị giám sát cần được thông báo về quyết định cho phép Giám sát truyền thông, để có đủ thời gian và thông tin để họ có thể thách thức quyết định hoặc tìm kiếm các biện pháp khác, và có quyền truy cập vào các tài liệu được trình bày để hỗ trợ đơn xin ủy quyền. Sự chậm trễ trong thông báo chỉ hợp lý trong những trường hợp sau:

  • Thông báo sẽ gây nguy hiểm nghiêm trọng cho mục đích mà Giám sát truyền thông được ủy quyền, hoặc có nguy cơ sắp gây nguy hiểm đối với tính mạng con người; và
  • Thông báo ủy quyền việc trì hoãn phải được cấp bởi cơ quan tư pháp có thẩm quyền; và
  • Người dùng bị ảnh hưởng được thông báo ngay sau khi rủi ro được dỡ bỏ theo quyết định của Cơ quan tư pháp có thẩm quyền.

Nghĩa vụ cung cấp thông báo thuộc về Nhà nước, nhưng các nhà cung cấp dịch vụ truyền thông phải được tự do thông báo cho các cá nhân bị giám sát.

Nguyên tắc 9: Tính minh bạch

Trong một nền dân chủ, người dân tham gia vào việc xây dựng luật pháp thông qua các đại diện được bầu của họ. Do đó, điều quan trọng là họ có đủ thông tin về cách thức Luật Pháp đang hoạt động để đưa ra các quyết định sáng suốt, cho dù khi đang bầu cử hay khi cân nhắc với những người khác về các vấn đề chính sách công.

Các quốc gia phải minh bạch về việc sử dụng và phạm vi của luật, quy định, hoạt động, quyền hạn hoặc cơ quan có thẩm quyền của Giám sát truyền thông.

Chính quyền nên xuất bản thông tin tổng hợp về số lượng yêu cầu cụ thể được chấp thuận và từ chối, sự phân tách các yêu cầu của nhà cung cấp dịch vụ và cơ quan điều tra, mục đích và số lượng cá nhân cụ thể bị ảnh hưởng.

Chính quyền cũng nên cung cấp cho các cá nhân đủ thông tin để cho phép họ hiểu đầy đủ về phạm vi, tính chất và việc áp dụng các luật cho phép Giám sát Truyền thông.

Các quốc gia không được can thiệp vào các nhà cung cấp dịch vụ trong nỗ lực của họ để thông báo các thủ tục mà họ áp dụng khi đánh giá và tuân thủ các yêu cầu của Nhà nước về giám sát truyền thông, như là một nỗ lực minh bạch của họ.

Nguyên tắc 10: Giám sát công khai

Các quốc gia nên thiết lập các cơ chế giám sát độc lập để đảm bảo tính minh bạch và trách nhiệm giải trình của Giám sát Truyền thông.

Các cơ chế giám sát này phải có thẩm quyền truy cập tất cả các thông tin có liên quan đến các hành động của Nhà nước, bao gồm:

Có quyền truy cập vào thông tin bí mật hoặc được phân loại; đánh giá liệu Nhà nước có sử dụng hợp pháp các chức năng của mình hay không.

Đánh giá liệu Nhà nước có toàn diện và chính xác về việc sử dụng kỹ thuật và quyền hạn giám sát truyền thông theo các nghĩa vụ minh bạch của mình hay không.

Công bố báo cáo định kỳ và các thông tin khác có liên quan đến truyền thông giám sát; và đưa ra các quyết định công khai về tính hợp pháp của các hành động đó, bao gồm cả mức độ tuân thủ các Nguyên tắc này. Cần thiết lập các cơ chế giám sát độc lập ngoài bất kỳ sự giám sát nào đã được cung cấp thông qua một chi nhánh khác của chính phủ.

Nguyên tắc 11: Tính toàn vẹn của truyền thông và hệ thống

Vào tháng Tư năm 2013, Đặc phái viên của Liên Hiệp Quốc về Tự do ngôn luận ghi nhận rằng:

Các cá nhân nên được tự do sử dụng bất kỳ công nghệ nào họ chọn để bảo đảm thông tin liên lạc của họ. Các quốc gia không nên can thiệp vào việc sử dụng các công nghệ mã hóa, cũng như không buộc phải cung cấp các khóa mã hóa.

Theo cách này, Nguyên tắc 11 phản ánh yêu cầu cơ bản rằng bất kỳ sự can thiệp nào đối với quyền riêng tư của truyền thông không chỉ hợp pháp mà còn phải cân đối. Cũng như sẽ trở thành bất hợp pháp nếu chính phủ cứ cho rằng tất cả người dân phải mở cửa nhà của họ trong trường hợp cảnh sát cần tìm một tài sản cụ thể, hoặc yêu cầu tất cả mọi người cài đặt camera giám sát trong nhà của họ trên cơ sở có ích cho các cuộc truy tố trong tương lai, sự ‘mất cân đối’ sẽ xuất hiện khi các chính phủ can thiệp vào tính toàn vẹn trong giao tiếp của người dân để tạo thuận lợi cho việc điều tra hoặc yêu cầu nhận dạng người dùng như điều kiện tiên quyết cho việc cung cấp dịch vụ hoặc lưu giữ tất cả dữ liệu khách hàng.

Quyền riêng tư đòi hỏi quyền của người xây dựng các phương tiện giao tiếp với nhau một cách cách an toàn từ sự xâm nhập bên ngoài. Nhiệm vụ của chính phủ là tôn trọng quyền riêng tư của truyền thông, và nhà nước cũng phải có nghĩa vụ tôn trọng tính toàn vẹn của bất kỳ hệ thống nào được sử dụng để truyền thông tin cá nhân.

Chính quyền không nên buộc các nhà cung cấp dịch vụ, nhà cung cấp phần cứng hoặc phần mềm xây dựng khả năng giám sát hoặc giám sát vào hệ thống của họ nhằm để thu thập, lưu trữ thông tin cụ thể nào đó cho mục đích Giám sát Truyền thông của Nhà nước.

Nguyên tắc 12: Các biện pháp bảo vệ hợp tác quốc tế

Để đối phó với những thay đổi trong các dòng chảy thông tin, công nghệ và dịch vụ truyền thông, các quốc gia có thể cần phải tìm kiếm sự hỗ trợ từ các quốc gia và nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài.

Theo đó, các Hiệp định hỗ trợ pháp lý lẫn nhau (MLATs) và các Hiệp định khác được các nước ký kết phải đảm bảo rằng, khi luật của nhiều quốc gia có thể áp dụng cho Giám sát truyền thông, thì tiêu chuẩn với mức độ bảo vệ cao hơn cho cá nhân  sẽ được áp dụng.

Các quốc gia không được sử dụng các quy trình hỗ trợ pháp lý lẫn nhau và hỗ trợ các yêu cầu của một nước khác về Thông Tin được Bảo Vệ, để vượt qua các hạn chế pháp lý trong nước về Giám sát Truyền thông.

Các quy trình hỗ trợ pháp lý lẫn nhau và các thỏa thuận khác cần được ghi chép rõ ràng, có sẵn công khai và tuân thủ các đảm bảo về tính công bằng của thủ tục.

Nguyên tắc 13: Các biện pháp bảo vệ chống lại truy cập bất hợp pháp và khắc phục hiệu quả.

Nguyên tắc cuối cùng dựa trên một loạt các tiêu chuẩn quốc tế liên quan đến việc bảo vệ quyền riêng tư.

Thứ nhất, nhiệm vụ của chính phủ trong việc ngăn chặn sự giám sát bất hợp pháp bằng cách xử phạt hình sự và dân sự nhằm phản ánh các yêu cầu của luật nhân quyền quốc tế để bảo vệ cá nhân, trước sự vi phạm quyền riêng tư của không chỉ bởi nhà nước mà còn bởi các cá nhân khác.

Thứ hai, cần phải cung cấp sự bảo vệ hiệu quả cho những người tố cáo, bao gồm Điều 19 ICCPR và Công ước Liên hợp quốc chống tham nhũng (2005) cũng như vi phạm quyền con người. Đặc biệt, Báo cáo viên đặc biệt của Liên Hợp Quốc về Tự do Ý kiến và Biểu hiện đã nhấn mạnh nhiều lần rằng tố cáo là một khía cạnh quan trọng của quyền tự do ngôn luận

Thứ ba, các luật nên quy định rằng bất kỳ thông tin nào thu được theo cách không phù hợp với các nguyên tắc này sẽ không được chấp nhận trở thành  bằng chứng hoặc không được xem xét trong bất kỳ thủ tục tố tụng nào, cũng như bất kỳ dẫn xuất bằng chứng nào của thông tin đó.

Thứ tư, các quốc gia cũng nên ban hành luật quy định rằng, sau khi tài liệu thu được thông qua Giám sát truyền thông đã được sử dụng cho mục đích cung cấp thông tin, tài liệu đó sẽ không được giữ lại mà thay vào đó bị hủy hoặc trả lại cho những người bị ảnh hưởng.

  • Xem thêm bản tiếng Anh tại đây: https://necessaryandproportionate.org/principles

-END-

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.