[Tài Liệu] Quyền riêng tư dưới Công ước quốc tế và Luật pháp Việt Nam.

Đời tư (sự riêng tư) là một khái niệm pháp lý có ý nghĩa quan trọng đối với mọi cá nhân mà nhờ đó mỗi người được nhận biết riêng biệt với cộng đồng xung quanh. Nhận thấy sự quan trọng của việc bảo vệ sự riêng tư nên chúng tôi đã đăng tải tài liệu này.

Tài liệu dưới đây được các thành viên nhóm Que Diêm copy lại từ cuốn sách “Thực hiện các quyền hiến định trong hiến pháp năm 2013” của PGS, TS Vũ Công Giao và ThS Nguyễn Anh Đức.

Đời tư và quyền được bảo vệ đời tư

Theo từ điển pháp lý Black’s Law (tái bản lần thứ 9) thì khái niệm đời tư được hiểu là “tình trạng hay điều kiện (của một người) được tách biệt khỏi sự chú ý của cộng đồng nhằm tránh khỏi sự xâm phạm hay can thiệp tùy tiện bởi hành động hoặc một quyết định của một chủ thế khác”.

Với khái niệm trên, có thể hiểu đời tư là những khía cạnh trong đời sống của một cá nhân hay bất kỳ chủ thể nào khác đều phải tôn trọng, bằng cách không đặt vào đó sự chú ý, sự can thiệp tùy tiện, hay cao hơn là sự xâm phạm đến những khía cạnh đó.Cũng từ cách hiểu như vậy, phạm vi khái niệm của “đời tư” đối với mỗi cá nhân sẽ không giống nhau, có nghĩa là cùng một khía cạnh đời sống nhưng với người này sẽ được xem là đời tư, nhưng với người khác có thể không phải. Ví dụ rõ ràng nhất để hình dung về sự khác biệt này có thể tìm thấy trong quan niệm về giới tính, cụ thể như với một người hoàn toàn bình thường theo quan niệm về giới tính của cộng đồng có thể không coi giới tính người đó là một yếu tố đời tư, thâm chí còn có xu hướng thể hiện các đặc tính giới tính của họ ra bên ngoài. Tuy nhiên, với những cá nhân mà tình trạng giới tính của họ không tuân theo quan điểm chung của cộng đồng về giới tính (đồng tính nam, đồng tính nữ, chuyển giới,…) thì lại coi yếu tố giới tính của họ là một khía cạnh đời tư cần được tôn trọng để tránh khỏi sự chú ý, sự can thiệp của bất cứ chủ thể nào khác, đặc biệt ở những cộng đồng còn nặng tư tưởng phân biệt, kỳ thị với họ.

Như vậy, từ một góc độ khác, có thể đưa khái niệm về đời tư là “những giá trị hữu hình hoặc vô hình thuộc về một người mà những giá trị ấy có thể xác định được tính khác biệt của người đó so với những chủ thể khác trong cộng đồng, và luôn gắn với ý chí chủ quan của chính người đó trong việc giải quyết chia sẻ hay không chia sẻ những giá trị đó ra bên ngoài”.

Gắn liền với khái niệm về “đời tư”, trong khoa học pháp lý còn có khái niệm về “quyền được bảo vệ đời tư”. Xét về nội hàm, khái niệm “quyền về đời tư” có nghĩa rộng hơn và bao hàm “quyền được bảo vệ đời tư”. Cụ thể, quyền về đời tư cho phép một người có toàn quyền chi phối, định đoạt những giá trị thuộc về đời tư của họ theo ý chí của chính người đó, bao gồm cả việc sử dụng những giá trị đời tư của họ cho những mục đích khác nhau. Trong khi đó, “quyền được bảo vệ đời tư” chỉ có tác dụng khi xuất hiện “những sự chú ý, can thiệp tùy tiện, thậm chí là sự xâm phạm” đến những giá trị đời tư, và khi đó có hai hình thức bảo vệ đó là: Thứ nhất, chính cá nhân là chủ thể bị xâm phạm quyền sẽ được bảo vệ quyền của mình bằng cách yêu cầu bên xâm phạm chấm dứt hành vi (và có thể bồi thường những thiệt hại do sự xâm phạm gây ra); thứ hai, cá nhân đó được pháp luật bảo vệ khi không tự mình bảo vệ được quyền trước những xâm phạm. Nói cách khác, “quyền được bảo vệ đời tư” được hiểu là khả năng của một người có thể tự mình hoặc được pháp luật hỗ trợ để chống lại những xâm phạm, can thiệp tùy tiện vào các giá trị đời tư của người đó.

Quyền được bảo vệ đời tư trong Luật Nhân quyền quốc tế

Quyền được bảo vệ đời tư đã được ghi nhận ngay từ thế hệ các quyền con người đầu tiên trong Luật Nhân quyền quốc tế(LNQQT), mà thể hiện rõ ràng nhất ở Điều 12 Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người (UDHR, 1948), trong đó nêu rằng: “Không ai phải chịu sự can thiệp một cách tùy tiện vào cuộc sống riêng tư, gia đình, nơi ở hoặc thư tín, cũng như bị xúc phạm danh dự hoặc uy tín cá nhân. Mọi người đều có quyền được pháp luật bảo vệ chống lại sự can thiệp và xâm phạm như vậy”.

            Nội dung trên được tái khẳng định tại Điều 17 Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị (ICCPR, 1966) và được Ủy ban nhân quyền (HRC – cơ quan giám sát thực thi ICCPR) làm rõ trong Bình luận chung số 16 tại phiên họp thứ 32 (1988). Trong Bình luận chung này, HRC nêu rõ mục đích của việc quy định quyền được bảo vệ đời tư là “nhằm bảo vệ chống lại những xâm phạm tùy tiện hay bất hợp pháp từ các chủ thể khác gồm mọi thế nhân, pháp nhân hay từ phía cơ quan nhà nước”.

            Từ nội dung của Điều 12 UDHR có thể thấy nội hàm về các giá trị đời tư cần được bảo vệ không chỉ cuộc sống riêng tư của mỗi các nhân mà còn bao gồm cả những khía cạnh đời sống có mối gắn kết mật thiết với cá nhân như gia đình, nơi ở, thư tín và cả những giá trị định tính như danh dự, uy tín cá nhân. Mặc dù chưa thể hiện hết các thuộc tính của nó nhưng có thể nói đây là một cách diễn giải tương đối cụ thể và chi tiết về các giá trị đời tư trong Luật quốc tế, giúp cho việc nội luật hóa quy định này vào pháp luật quốc gia được thuận lợi hơn, thay vì để các quốc gia tự “sáng tạo” ra các giá trị đời tư.

            Để làm rõ hơn những xâm phạm đối với đời tư của cá nhân, Bình luận chung số 16 cũng đã đề cập thế nào là “can thiệp tùy tiện” và “bất hợp pháp” vào quyền đời tư của người khác. Theo đó, “bất hợp pháp” là sự can thiệp không dựa trên nền tảng quy định của pháp luật được xây dựng phù hợp với các quy định và mục đích của ICCPR. Ở mức độ xâm phạm cao hơn, cụm từ “can thiệp tùy tiện” được sử dụng để chỉ những hành động mà mặc dù dựa trên những quy định của pháp luật nhưng không phù hợp hoặc trái với những quy định và mục đích của công ước.

            Trước sự phát triển của khoa học công nghệ và nhu cầu xây dựng hệ thống thông tin điện tử trong quản lý nhà nước, Đại hội đồng Liên hiệp quốc đã thông qua “Hướng dẫn về quy chế số hóa hồ sơ dữ liệu cá nhân” theo Nghị quyết số 45/95 ngày 14-12-1990, với nguyên tắc đầu tiên được đề cập là “thông tin về các cá nhân không nên được thu thập, xủ lý một cách bất công hoặc bất hợp pháp, và cũng không nên được dùng trái với những mục đích, nguyên tắc của Hiến chương Liên hiệp quốc”.

            Cùng với những quy định chung nêu trên, việc bảo vệ đời tư của cá nhân cũng được xác nhận với một số chủ thể đặc biệt như Công ước về quyền trẻ em (RCR, Điều 16), Công ước về quyền của người khuyết tật (CRPD, Điều 22).

            Qua những quy định và diễn giải về quyền được bảo vệ đời tư cho thấy, LNQQT chủ yếu hướng đến nghĩa vụ của các nhà nước trong việc bảo vệ quyền này thông qua pháp luật. Nếu xem xét trong bối cảnh ra đời của LNQQT thì thấy rằng lý do dẫn đến việc ghi nhận sự bảo vệ quyền đời tư là do “sự gia tăng mức độ nguy hiểm của việc can thiệp” với “những hình thức can thiệp tinh vi thông qua sự phát triển của khoa học công nghệ (như giám sát điện tử của cơ quan nhà nước). Do đó, giới hạn sự tùy tiện của các nhà nước trong việc can thiệp vào đời tư của cá nhân công dân là thật sự quan trọng.

            Tuy nhiên, việc nhấn mạnh nghĩa vụ bảo vệ của pháp luật như vậy tuy phù hợp với tinh thần của LNQQT nói chung nhưng vô tình đã làm lu mờ nghĩa vụ của chính mỗi cá nhân đối với việc tự bảo vệ quyền đời tư của bản thân, mà thông thường việc tự bảo vệ của mỗi cá nhân sẽ đem lại hiệu quả tổng thể cao hơn thay vì đợi nhà nước giúp đỡ, bởi lẽ việc áp dụng pháp luật nói chung cần trải qua những trình tự thủ tục nhất định mà có thể làm chậm quá trình khôi phục những giá trị đời tư bị xâm phạm. Đây cũng là một vấn đề pháp lý mới cần đặt ra trong giai đoạn hiện nay khi mà những xâm phạm đời tư do cá nhân, pháp nhân khác (không phải cơ quan nhà nước) diễn ra ngày càng phổ biến và nghiêm trọng dưới vỏ bọc của những quyền như tự do báo chí, tự do ngôn luận,… mà ở đó nghĩa vụ bảo vệ của Nhà nước khó đạt được sự chủ động cần thiết và đòi hỏi mỗi cá nhân cũng phải có vai trò tích cực hơn đối với việc bảo vệ các giá trị về đời tư. Điều này đã được thừa nhận trong Lời nói đầu (đoạn 6) của ICCPR, rằng “mỗi các nhân trong khi có nghĩa vụ đối với người khác và đối với cộng đồng của mình, phải có trách nhiệm phấn đấu cho việc thúc và tôn trọng các quyền đã được thừa nhận trong Công ước này“.

Giới hạn

            Mặc dù là một quyền con người quan trọng nhưng quyền được bảo vệ đời tư theo LNQQTcũng không phải là một quyền tuyệt đối mà có thể bị giới hạn theo tinh thần của điều 29 UDHR “nhằm bảo đảm mục đích sự công nhận và tôn trọng thích đáng đối với các quyền và tự do của người khác, cũng như nhằm đáp ứng những nhu cầu chính đáng về đạo đức, trật tự công cộng và phúc lợi chung trong một xã hội dân chủ”. Đây là một cơ sở quan trọng cho việc xây dựng pháp luật ở mỗi quốc gia nhằm bảo đảm tính hài hòa giữa các quyền con người của cá nhân với những quyền và lợi ích chung của cộng đồng. Đồng thời, việc đưa ra giới hạn này cũng đặt ra yêu cầu đối với các nhà nước trong khi cân nhắc tính hài hòa của pháp luật quốc gia về bảo đảm các quyền con người cụ thể, đặc biệt là với một số quyền có khả năng xung đột với các quyền khác như quyền được bảo vệ đời tư với quyền tiếp cận thông tin, tự do báo chí, tự do ngôn luận,…

Quyền dược bảo vệ đời tư trong Hiến pháp năm 2013 và pháp luật Việt Nam

Quyền được bảo vệ đời tư trong Hiếp pháp Việt Nam

            Xét theo những khía cạnh cơ bản về đời tư được nêu trong Điều 12 UDHR cho thấy, việc bảo vệ các giá trị đời tư cơ bản của một cá nhân đã được ghi nhận ngay từ khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập mà thể hiện nổi bật ở Điều 11 Hiến pháp năm 1946. Tuy Điều 11 của Hiến pháp năm 1946 mới chỉ ghi nhận quyền của công dân không bị xâm phạm trái pháp luật về nhà ở và thư tín, song đặt trong bối cảnh chính quyền mới vào thời điểm đó thì việc ghi nhận những giá trị đời tư cơ bản như vậy cũng đã là một tiến bộ lớn. Nội dung bảo vệ quyền tương tự cũng được xác nhận lại tại Điều 28 Hiến pháp năm 1959. Đến Hiến pháp năm 1980 (Điều 71) và Hiến pháp năm 1992 (Điều 73), việc bảo vệ không gian riêng tư của cá nhân được bảo vệ rõ ràng hơn với diễn giải: “Không ai được tự ý vào chỗ ở của người khác nếu người đó không đồng ý, trừ trường hợp được pháp luật cho phép. Việc khám xét chỗ ở phải do cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành, theo quy định của pháp luật”. Cùng với đó, bảo đảm về thư tín được cập nhật thêm những hình thức liên lạc mới như điện thoại, điện tính cho phù hợp với bối cảnh phát triển mới của đất nước sau khi thống nhất, chấm dứt chiến tranh.

            Hiến pháp năm 2013 có nhiều điểm mới quan trọng mà nổi bật là ở chế định quyền con người, quyền công dân. Cùng với nhiều quyền khác, quyền về đời tư của cá nhân trong Hiến pháp năm 2013 được mở rộng, bám sát hơn nội dung của Điều 12 UDHR. Theo Điều 21 của Hiến pháp năm 2013: “1. Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình, có quyền bảo vệ danh dự, uy tín của mình. Thông tin về đời sống cá nhân, bí mật riêng tư, bí mật gia đình được pháp luật bảo đảm an toàn; 2. Mọi người có quyền bí mật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác. Không ai được bóc mở, kiểm soát, thu giữ trái luật thư tín, điện thoại, điện tính và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác”.

            Điều 22 Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “1. Công dân có quyền có nơi ở hợp pháp; 2. Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở. Không ai được tự ý vào chỗ ở của người khác nếu không được người đó đồng ý; 3. Việc khám xét chổ ở do luật định”.

            So với Hiến pháp năm 1992, các Điều 21 và 22 của Hiến pháp năm 2013 thể hiện một số điểm mới về quyền được thể hiện đời tư như sau:

            Thứ nhất, lần đầu tiên Hiến pháp xác định rằng các quyền con người là vốn có (chứ không phải do nhà nước hay chủ thể nào ban phát), qua đó gián tiếp thừa nhận vai trò, nghĩa vụ chủ động của Nhà nước trong việc công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm các quyền con người nói chung, thể hiện ở Điều 3 và khoản 1 Điều 14 của Hiến pháp. Với tinh thần như vậy, quy định về bảo vệ những trao đổi riêng tư của cá nhân tại khoản 2 Điều 21 đã phần nào thể hiện nguyên tắc nhà nước không can thiệp một cách bất hợp pháp thông qua việc kiểm soát, thu giữ trái luật những hình thức trao đổi thông tin riêng tư của cá nhân. Mặc dù các thế nhân và pháp nhân khác cũng có thể có những hành vi xâm phạm đời tư cá nhân thông qua kiểm soát hay thu giữ (ví dụ như cha mẹ đối với con, nhà trường đối với học sinh,…) nhưng quy định này hướng nhiều hơn đến giới hạn sự can thiệp của Nhà nước đối với thông tin đời tư của cá nhân, bởi lẽ những can thiệp mang tính chất dân sự thuần túy thường có ít hệ quả nghiêm trọng hơn so với những can thiệp mang theo quyền lực nhà nước, mà đó mới chính là mục đích của việc giới hạn đặt ra trong Hiến pháp.

            Thứ hai, thay vì sử dụng từ “công dân” với tư cách chủ thể quyền về đời tư thì Hiến pháp năm 2013 đã thừa nhận chủ thể của quyền này là “mọi người”. Việc thay đổi thuật ngữ như vậy đã phản ánh đúng bản chất của quyền là không chỉ giới hạn cho những người có tư cách công dân Việt Nam mà còn dành sự bảo vệ cho tất cả những người không có quốc tịch Việt Nam đang cư trú trên lãnh thổ Việt Nam. Sự điều chỉnh như vậy rõ ràng có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo đảm các quyền con người trong bối cảnh hội nhập quốc tế của Việt Nam ngày càng sâu rộng, cũng như thể hiện tính phù hợp đối với việc thực hiện các điều ước quốc tế về nhân quyền mà Việt Nam đã tham gia.

Quyền được bảo vệ đời tư trong pháp luật Việt Nam và vấn đề đặt ra

            Cho đến nay, việc thể chế hóa các quy định của Hiến pháp năm 2013 về các quyền con người, quyền công dân trong các đạo luật vẫn đang được tiến hành thông qua chương trình sửa đổi cũng như xây dựng mới nhiều văn bản luật. Tuy vậy, về cơ bản những đạo luật hiện hành cũng đã tạo lập được khung pháp lý nhất định cho việc bảo vệ các giá trị đời tư của cá nhân. Thậm chí, ngay trong Bộ luật Dân sự 2005 (BLDS) đã ghi nhận sự bảo vệ đời tư theo nghĩa rộng hơn so với bản Hiến pháp đang có hiệu lực vào thời điểm đó (Hiến pháp năm 1992). Cụ thể, Điều 38 BLDS quy định: “1. Quyn bí mt đi tư ca các nhân đưc tôn trng và đưc pháp lut bo v; 2. Vic thu thp, công b thông tin, tư liu v đi tư ca cá nhân phi đưc ngưi đó đng ý; trong trưng hp ngưi đó đã chết, mt năng lc hành vi dân s, chưa đi lăm tui thì phi đưc cha, m, v, chng, con đã thành niên hoc ngưi đi din ca ngưi đó đng ý, tr trưng hp thu thp, công b thông tin, tư liu theo quyết đnh ca cơ quan, t chc có thm quyn; 3. Thư tín, đin thoi, đin tín, các hình thc thông tin đin t khác ca cá nhân đưc bo đm an toàn và bí mt. Vic kim soát thư tín, đin thoi, đin tín, các hình thc thông tin đin t khác ca cá nhân đưc thc hin trong trưng hp pháp lut có quy đnh và phi có quyết đnh ca cơ quan nhà nưc có thm quyn”.

            Việc sử dụng thuật ngữ “cá nhân” ở điều luật này với tư cách chủ thể quyền rõ ràng rộng hơn so với thuật ngữ “công dân” được sử dụng trong Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi năm 2001). Tuy vậy, khoản 2 Điều 38 nêu trên vẫn để ngỏ khả năng can thiệp tùy tiện vào đời tư của cá nhân thông qua “quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền”. Ở đây, cần thấy rằng quan điể của LNQQT không chỉ không cho phép những can thiệp bất hợp pháp (tức là không theo quy định của pháp luật) mà còn không cho phép sự can thiệp tùy tiện của Nhà nước đối với đời tư của cá nhân, chẳng hạn như thông qua một quyết định hành chính mà không dựa trên căn cứ luật định.

            Ngoài ra, một số văn bản luật chuyên ngành khác cũng có quy định về bảo vệ các giá trị đời tư của cá nhân như: yêu cầu giữ bí mật thông tin đời tư cá nhân theo khoản 2 Điều 4 Luật Bưu chính năm 201; khoản 4 Luật Hiến, lấy, ghép mô, bô phận cơ thể người và hiến, lấy xác năm 2006; khoản 2 Điều 3 Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2009; khoản 3, 4 Điều 6 Luật Viễn thông năm 2009;… Hành vi tiết lộ thông tin về đời tư cá nhân là hành vi bị cấm theo quy định của nhiều luật, ví dụ: Khoản 4 Điều 10 Luật Báo chí năm 1999, Điều 7 Luật Bưu chính năm 2010, Điều 12 Luật Viễn thông năm 2009, khoản 5 Điều 6 Luật Giám định tư pháp năm 2012, Điều 10 Luật Xuất bản năm 2012; Điều 8 Luật Phòng, chống nhiễm vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS) năm 2006. Thậm chí, một số hành vi xâm phạm đời tư của cá nhân còn phải chịu truy cứu trách nhiệm hình sự theo các Điều 124 và 125 Bộ Luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi năm 2009).

            Bên cạnh những quy phạm về luật nội dung, quyền đối với đời tư của cá nhân cũng như quy định khá đầy đủ trong các luật tố tụng, như ở các khoản 3 Điều 13, khoản 2 Điều 15, khoản 3 Điều 66, khoản 2 và 3 Điều 97, khoản 2 Điều 227, điểm d khoản 2 Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004; ở Điều 8, Điều 18 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003; ở khoản 3 Điều 15, Điều 17, Điều 56, khoản 2 và 3 Điều 90, khoản 2 Điều 153 Luật Tố tụng hành chính năm 2010. Các điều khoản của những luật này quy định việc xét xử công khai, công bố các tài liệu chứng cứ, cung cấp lời khai của nhân chứng có thể không được thực hiện để đảm bảo yêu cầu chính đáng về đời tư của người có liên quan, và việc xét xử kín cũng để nhằm mục đích này.

            Như vậy, có thể thấy, cùng với Hiến pháp, hệ thống pháp luật của Việt Nam nói chung đã có nền tảng để bảo vệ các giá trị đời tư của cá nhân bằng công cụ pháp luật ở nhiều lĩnh vực cụ thể. Tuy nhiên, còn một số vấn đề đặt ra đối với quá trình hoàn thiện pháp luật về bảo vệ đời tư của cá nhân như sau:

            Th nht, vai trò chủ động của Nhà nước trong thực hiện các nghĩa vụ tôn trọng, bảo vệ và thúc đẩy quyền nói chung chưa được chú trọng. Ngoài Hiến pháp năm 2013, chưa có văn bản luật nào chính thức thừa nhận nghĩa vụ này của nhà nước mặc dù theo tinh thần chung của LNQQT, các nhà nước là chủ thể chính có nghĩa vụ bảo đảm và thúc đẩy các quyền con người.

            Th hai, nhìn tổng thể, hệ thống pháp luật Việt Nam chưa được đồng bộ, còn chồng chéo và có nhiều lỗ hổng trong bảo đảm các quyền con người nói chung. Về quyền được bảo vệ đời tư của cá nhân cũng cho thấy còn nhiều thiếu sót như chưa có quy định về quyền được bảo vệ đời tư của trẻ em, quyền bảo vệ đời tư của người khuyết tật vốn là những đối tượng dễ bị xâm hại, lạm dụng trong khi Việt Nam đã gia nhập CRC từ năm 1990, đã có riêng một đạo luật về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em và gần đây Việt Nam cũng đã gia nhập CRPD. Vấn đề chồng chéo nhưng nhiều lỗ hổng của hệ thống pháp luật đã được đưa ra thảo luận từ nhiều năm nay nhưng chưa đưa được những giải pháp có tính khả thi phù hợp. Sự thiếu thống nhất trong các văn bản luật, thậm chí cả về việc sử dụng thuật ngữ đã dẫn đến những cách hiểu và áp dụng pháp luật không thống nhất, đặc biệt là ở cấp cơ sở. Bối cảnh mới sau khi Hiến pháp năm 2013 được thông qua và hội nhập quốc tế sâu rộng đã tạo điều kiện rất thuận lợi cho tiến trình đồng bộ hóa hệ thống pháp luật dựa trên tinh thần của Hiến pháp, tuy nhiên đây vẫn là một thách thức lớn đối với cơ quan lập pháp ở Việt Nam.

            Th ba, cách hiểu và sử dụng thuật ngữ liên quan đến bảo vệ đời tư cá nhân trong pháp luật Việt Nam còn chưa thực sự tương thích với LNQQT về cùng vấn đề này. Ví dụ điển hình là quyền được tôn trọng đời tư tại không gian vật lý mà cá nhân sinh sống, hay còn gọi là nơi ở. Trong khi LNQQT quy định quyền có nơi ở thích đáng (với nghĩa bao hàm các yếu tố pháp lý, an ninh, tiện ích,…), thì Hiến pháp năm 2013 của Vệt Nam chỉ quy định quyền có nơi ở hợp pháp – đây là một khái niệm hẹp hơn nhiều. Cũng tại Điều 22 của Hiến pháp năm 2013, việc sử dụng thuật ngữ không thống nhất giữ khoản 1 và khoản 2 cũng gây nên những tranh cãi không đáng có về “nơi ở hợp pháp” và “chỗ ở”.

            Th, mặc dù pháp luật có những quy định khá đầy đủ về việc bảo đảm các quyền con người nói chung, nhưng việc thực hiện trên thực tế lại là vấn đề tồn tại từ lâu. Chẳng hạn, quy định về quy tắc xét xử công khai tại Điều 18 Bộ luật Tố tụng hình sự: “trong trưng hp đc bit cn gi bí mt nhà nưc, thun phong m tc ca dân tc hoc đ gi bí mt ca đương s theo yêu cu chính đáng ca h thì Tòa án xét x kín, nhưng phi tuyên án công khai” được hiểu rằng tòa án chỉ có quyền công bố những kết luận trong bản án, nhưng thực tế hoạt động xét xử, các thẩm phán chủ tọa phiên tòa thường đọc lại toàn bộ nội dung bản án một cách công khai trong đó nêu tường tận về mọi tình tiết của vụ án, khiến cho “những thông tin cần giữ bí mật” không còn là điều bí mật.

            Th năm, hoạt động phổ biến các quyền của người dân và gầy dựng niềm tin đối với pháp luật còn hạn chế. Đây là một trong những nguyên nhaan khiến các hành vi xâm phạm đời tư cá nhân ít khi được các nạn nhân chủ động nhờ đến sự hỗ trợ của pháp luật và các cơ quan thực thi pháp luật mà thường lựa chọn phương thức tự giải quyết, thỏa hiệp với các chủ thể có hành vi xâm phạm với mong muốn được “yên thân”, đặc biệt là những hành vi xâm phạm đời tư liên quan đến quan hệ tình dục hoặc hình ảnh riêng tư của các nhân.

            Th sáu, cùng với trách nhiệm của hệ thống cơ quan thực thi, bảo vệ pháp luật, cần phải nhìn nhận đến trách nhiệm của hệ thống các phương tiện truyền thông đại chúng mà trong một số các trường hợp đã gián tiếp cổ xúy, tiếp tay cho các hành vi xâm phạm đời tư, khiến nội dung xâm phạm quyền có tốc độ lan truyền nhanh chóng và nhiều trường hợp đã dẫn đến hậu quả rất đáng tiếc như nạn nhân tự tử, gia đình nạn nhân bị bêu xấu, làm tổn hại thanh danh. Thậm chí có cơ quan truyền thông ngang nhiên xâm phạm đời tư của cá nhân dưới danh nghĩa tự do báo chí, tự do ngôn luận mà sau đó không chứng minh được sự đúng đắn trong những hành vi đó nhưng vẫn không công khai cải chính hoặc xin lỗi nạn nhân.

Hoàn thiện pháp luật và cơ chế bảo vệ, thúc đẩy quyền được bảo vệ đời tư ở Việt Nam

            Từ những phân tích ở trên, có thể nêu một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về bảo vệ đời tư ở Việt Nam như sau:

            Một là, hành động lập pháp trong giai đoạn hiện nay cần thể hiện rõ tinh thần của Hiến pháp năm 2013 cùng với các công ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia, trong đó xác định vai trò chủ động của nhà nước trong việc tôn trọng, bảo vệ và thúc đẩy các quyền con người nói chung. Việc này đã được thực hiện trong quá trình xây dựng Hiến pháp năm 2013 và rõ ràng có khả năng tiếp tục triển khai đối với các dự án luật xây dựng mới và đang sửa đổi hiện nay. Cùng với đó, cần đối chiếu kỹ lưỡng việc sử dụng thuật ngữ trong các văn bản pháp luật để bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất và tương thích với các quan điểm chung của quốc tế.

            Hai là, dựa trên bố cục của Hiến pháp năm 2013 về các quyền con người, quyền công dân đã được ghi nhận để tiến hành rà soát nội dung các văn bản luật theo từng quyền cụ thể được quy định từ Điều 16 đến Điều 43 trong Hiến pháp (28 quyền cơ bản). Việc rà soát theo từng quyền như vậy giúp tiết kiệm thời gian đồng bộ hệ thống pháp luật, đảm bảo không bỏ sót hoặc chồng chéo. Qua đó sẽ bổ sung được những thiếu sót của pháp luật liên quan đến từng quyền riêng biệt. Đối với quyền được bảo vệ đời sống riêng tư, việc rà soát sẽ giúp bổ sung những thiếu sót liên quan đến bảo vệ đời tư của trẻ em, người khuyết tật như đã phân tích, và còn có khả năng mở rộng đến những chủ thể khác như người lao động (giúp tránh được những sự so sánh không đáng có về năng suất lao động, mức độ thụ hưởng thành quả lao động,… vốn là nguyên nhân dẫn đến sự ganh ghét, so bì lẫn nhau, cản trở sự phát triển của nhau).

            Ba là, xác định lại cách thức thực hiện pháp luật, áp dụng pháp luật ở hầu hết các cơ quan nhà nước để đảm bảo việc áp dụng, thực hiện pháp luật là dựa trên tinh thần của luật, bảo đảm tính nhân văn chứ không cứng nhắc dựa trên những câu chữ của văn bản luật do “tính ỳ”, sợ chịu trách nhiệm của một bộ phận lớn nhân viên công vụ. Ví dụ như với quy định về tuyên án công khai trong các trường hợp xét xử kín theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự rõ ràng cho thấy việc áp dụng cứng nhắc về câu chữ “tuyên án công khai” đã khiến cho tinh thần mục đích bảo vệ các giá trị đời tư của pháp luật tố tụng trở nên vô nghĩa và thực sự bị chính cơ quan thi hành pháp luật xâm phạm một cách “hoàn toàn hợp pháp”, trong khi nếu hiểu đúng tinh thần của quy định này thì chỉ cần tuyên công khai “mức án” dành cho người bị kết tội, là phần nội dung cuối cùng trong bản án của tòa.

            Bốn là, xác định rõ hơn, chặt chẽ hơn trách nhiệm của các hệ thống thông tin truyền thông đại chúng. Với chức năng và khả năng của mình, các cơ quan truyền thông cá nhân, tổ chức tham gia hoạt động truyền thông có vai trò rất lớn trong việc bảo đảm các giá trị đời tư nhưng cũng là chủ thể tiềm năng vi phạm điều này. Việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật về quản lý báo chí và truyền thông như hiện nay chỉ là một cơ sở quan trọng nhưng chưa đầy đủ để được coi là hoàn thiện. Cần pháp lý hoá các quy tắc đạo đức trong quá trình thực hành nghề nghiệp báo chí, truyền thông với việc quy định rõ trách nhiệm pháp lý của cá nhân, tổ chức hoạt động báo chí, truyền thông đại chúng khi vi phạm những quy tắc đạo đức nghề nghiệp mới thực sự nâng cao được chất lượng của hoạt động này. Qua đó mới tạo lập được cơ sở bền vững cho sự tôn trọng và bảo vệ các giá trị đời tư của cá nhân trên các hệ thống thông tin đại chúng.

Biên tập bởi nhóm Que Diêm.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.